Quảng cáo

Liên kết website

Đăng nhập

  • Tên đăng nhập
  • Mật khẩu

Thống kê

Đang online
29
Tổng lượt truy cập
1856839

Hỏi đáp

Các câu hỏi đã có trả lời(Click chuột để xem trả lời)
  • Điều trị viêm phế quản ở trẻ em
    bé nhà em hôm rét vừa rồi bị ho ,chảy nước mũi ,khò khè khó thở khổ thân lắm nhưng mà bé không bị sốt, em đưa bé đi viện nhi khám thì họ bảo là bé bị viêm phế quản _ phổi .Họ cho thuốc về uống thì em thấy cũng đỡ nhưng được một thời gian thì bé lại bị lại như thế ,vậy phải lam thế nào chứ cứ đi viện như thế thì ............................mong anh chị trả lời sớm cho em nhé .cám ơn anh chị rất nhiều
    Nguyễn Thị Hồng Thắm
    Trả lời:

    Viêm phế quản là bệnh thường gặp ở trẻ em, bất kể thời tiết thế nào. Và nếu không được chữa trị kịp thời và đúng cách, căn bệnh này rất dễ trở thành mãn tính. Sau đây là một số hiểu biết cơ bản giúp bạn “ứng phó” với căn bệnh này khi cần thiết.

     

    Triệu chứng của bệnh

     

    Vi rút là thủ phạm chính gây nên các chứng bệnh thường thấy ở trẻ nhỏ như cảm lạnh, ho, cúm hay viêm xoang. Sau đó nếu không được chữa trị kịp thời chúng có thể lây lan tới hai cuống phổi (bộ phận nối cổ họng và hai lá phổi với nhau), điều này rất nguy hiểm. Chúng sẽ làm cho khí quản sưng phồng, tấy đỏ và một phần dịch nhầy trong phổi bị ứ đọng lại. Nếu bé có những biểu hiện trên cùng với sốt kéo dài trong vài ngày hay ho kéo dài trong vòng từ 2 - 3 tuần, vậy là bé đã bị viêm phế quản.

     

    Tiếp sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, có cảm giác đau rát cổ họng và xuất hiện đờm màu xanh, xám, hay hơi vàng. Trẻ sẽ có cảm giác đau ngực, sốt nhẹ, và mệt mỏi.

     

    Bên cạnh đó, khói thuốc lá và bụi bẩn cũng là những nguyên nhân không thể loại trừ. Đa số các thanh thiếu niên nghiện thuốc lá hay trẻ em phải sống trong môi trường có khói thuốc lá, rất dễ có nguy cơ bị viêm phế quản mãn tính.

     

    Cách chữa trị

     

    Liệu pháp để điều trị căn bệnh này là nới rộng khí quản cho trẻ, hay bác sĩ có thể kê loại thuốc ho giúp trẻ không bị tắc đờm trong cổ họng, đôi khi bác sĩ sẽ dùng một cái ống để hút các chất nhầy trong phổi.

     

    Bạn không nên dùng thuốc ho để điều trị chứng ho khan ở trẻ, nếu ho giúp bé tống hết đờm ra ngoài, thì hoàn toàn lại là việc rất hữu ích, nó sẽ giúp bé mau chóng bình phục hơn.

     

    Nếu bác sĩ chuẩn đoán, bệnh hen suyễn hay căn bệnh dị ứng khí quản, chính là nguyên nhân khiến trẻ bị ho, trong trường hợp này bác sĩ sẽ cho bé uống loại thuốc bronchodilator(một loại thuốc giúp khí quản có thể mở rộng hơn) hay corticosteroid( một loại thuốc làm dịu các vết sưng tấy).

    Lưu ý rằng viêm phế quản là do một loại virut gây nên, điều này đồng nghĩa với việc thuốc kháng sinh sẽ không đem lại ích lợi gì cho việc điều trị.

     

    Bạn hãy cho bé uống 8 tới 10 cốc nước mỗi ngày, để giúp bé không bị tắc nghẽn sung huyết.

     

    Không khí trong nhà khô hanh, lạnh, bụi bẩn và nhiều khói thuốc cũng sẽ gây cho bé cảm giác khó chịu, hay thậm chí là sưng tấy khí quản, hãy dùng máy giữ ẩm không khí để tăng độ ẩm, và luôn đảm bảo cho bé căn phòng sạch sẽ, ấm áp, và đặc biệt không có khói thuốc. Bạn có thể cho bé uống acetaminophen hay ibuprofen để giúp bé hạ sốt và giảm đau.

     

    Ngay khi trẻ bị cảm lạnh hay mắc các chứng bệnh không đáng lo ngại, thì cũng nên điều trị dứt điểm ngay, để tránh các biến chứng về sau.

     

    Trong trường hợp bé có biểu hiện thở dốc, tái mặt hay ho ra máu, bạn nên đưa bé tới bệnh viện ngay trước khi quá muộn vì khi đó bé đang gặp nguy hiểm.

     

    Chúc bé mau khỏe.

    Sưu tầm
  • Những dấu hiệu bệnh thận ở trẻ em
    Xin các bác sĩ cho hỏi: Con trai tôi năm nay đã 3 tuổi. Tôi nghi cháu có những dấu hiệu của BỆNH THẬN: - Hay đi tiểu (khoảng 1 tiếng / 1 lần). Biếng ăn. - Đêm ngủ rất hay mơ sau đó giật mình tỉnh giấc khóc thét lên. - Hay kêu CON MỆT. Vậy đó có phải là những dấu hiệu của bệnh thận không? Nếu nghi ngờ của tôi là đúng, tôi muốn đưa cháu đi khám thì cần phải làm những xét nghiệm gì? Xin chân thành cảm ơn các bác sĩ đã quan tâm! Rất mong các bác sĩ sớm hồi âm cho tôi. Trân trọng!
    Nguyễn Thanh Tuấn
    Trả lời:

    Nhiều bậc cha mẹ rất đỗi ngạc nhiên khi được bác sĩ thông tin rằng con mình bị bệnh thận, bởi vì họ thường nghĩ đây là bệnh của người lớn. Thực tế, trẻ có thể mắc bệnh thận từ khi còn trong bào thai, lúc mới sinh hay bất cứ độ tuổi nào trong quá trình tăng trưởng.

     

    Xin đề cập ở đây những bệnh thận rất thường gặp ở trẻ em như: nhiễm trùng đường tiểu, viêm cầu thận cấp, hội chứng thận hư cùng những dấu hiệu, triệu chứng nhằm phát hiện bệnh sớm, cách săn sóc trẻ khi mắc bệnh và phương cách theo dõi, phòng ngừa bệnh.

     

    I. Nhiễm trùng tiểu ở trẻ em:

     

    Bao gồm bệnh cảnh viêm bể thận (nhiễm trùng đường tiểu cao) và viêm bàng quang (viêm đường tiểu thấp).

     

    A. Viêm bể thận:

     

    Triệu chứng định bệnh rất mơ hồ ở trẻ dưới 1 tuổi, do đó bác sĩ nhi khoa luôn luôn phải nghĩ đến để tìm và cho xét nghiệm nhằm có thể chẩn đoán kịp thời:

     

    - Trẻ có thể sốt rất cao từ 39,5oC - 40oC kèm lạnh run nhưng đôi khi có thể biểu hiện bằng hạ thân nhiệt ở trẻ sơ sinh.

     

    - Bỏ bú.

     

    - Ọc sữa, đôi khi tiêu chảy.

     

    - Khóc thét khi đi tiểu.

     

    - Ở trẻ lớn sẽ dễ định bệnh hơn vì trẻ có thể kể cho cha mẹ và bác sĩ nghe - trẻ bị tiểu đau, rát, tiểu nhiều lần.

     

    - Ðau hố thắt lưng.

     

    - Sốt cao ở trẻ lớn luôn là triệu chứng rất đáng tin cậy trong viêm bể thận.

     

    Những xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán viêm bể thận:

     

    1. Công thức máu: sẽ giúp thầy thuốc hướng đến bệnh lý nhiễm trùng với bạch cầu máu cao và nổi bật là đa nhân trung tính.

     

    2. Cấy máu: ở trẻ nhỏ, nhiễm trùng đường tiểu cao rất dễ đưa đến nhiễm trùng huyết do đó cần thiết phải cấy máu.

     

    3. Xét nghiệm tìm phản ứng viêm: C-réactive protéine = C.R.P tăng cao trong viêm bể thận cấp.

     

    4. Xét nghiệm nước tiểu:

    - Ðếm bạch cầu trong nước tiểu.

     

    - Soi tươi tìm vi trùng.

     

    - Tìm nitrite/trong nước tiểu.

     

    Cấy nước tiểu là xét nghiệm để định bệnh, xét nghiệm này phải làm rất cẩn thận, vô trùng tuyệt đối điều dưỡng viên phải rửa sạch vùng hồi âm của trẻ với xà phòng và nước sạch rồi sát trùng bằng chlohexidine, sau đó mới dán bao hứng nước tiểu (ở trẻ nhỏ). Khi có nước tiểu phải lấy bằng ống tiêm vô trùng và đem gửi phòng xét nghiệm ngay để cấy vì môi trường nước tiểu rất dễ cho các vi trùng tự sinh sôi nẩy nở và sẽ dễ dẫn đến hiện tượng ngoại nhiễm đem lại kết quả chẩn đoán sai lầm.

    (Ở trẻ lớn: sau khi vệ sinh sạch sẽ như với trẻ nhỏ, điều dưỡng có thể lấy nước tiểu giữa dòng và đem gửi cấy ngay).

     

    Kết quả mẫu cấy nước tiểu như thế nào được xem là nhiễm trùng tiểu?: Nhiễm trùng tiểu được định nghĩa khi có sự hiện diện của một loại vi trùng duy nhất trong canh cấy với số lượng > 105 vi trùng trong 1ml nước tiểu và/ hoặc có hiện diện của bạch cầu niệu với số lượng > 104 bạch cầu/1ml nước tiểu được thực hiện trong điều kiện lấy nước tiểu và cấy nước tiểu trong điều kiện vô trùng tuyệt đối.

     

    Các loại vi trùng gây nhiễm trùng tiểu.

     

    - Escherichia coli là vi trùng thường gặp nhất chiếm 80% các trường hợp nhiễm trùng tiểu.

     

    - Các vi trùng khác: Klebsiella, pseudomonas aeruginosa, staphylococcus, streptococcus, citrobacter.

     

    5. Chẩn đoán bằng hình ảnh học:

     

    - Echo thận và đường tiết niệu: Echo thận có thể phát hiện được dị dạng thận niệu để kịp thời xử trí phẫu thuật cho trẻ. Ðây là một xét nghiệm ít tốn kém và không gây sang chấn cho trẻ, cần được làm một cách có hệ thống ở tất cả trẻ được chẩn đoán xác định nhiễm trùng tiểu.

     

    - Chụp bàng quang ngược dòng: để phát hiện trào ngược bàng quang niệu quản ở các mức độ 1, 2, 3 và 4. Chỉ định phẫu thuật thận đặt ra khi có trào ngược bàng quang niệu quản mức độ 3, 4; ở mức độ 1 và 2 điều trị nội khoa phòng ngừa nhiễm trùng tiểu với các loại kháng sinh uống.

     

    - Chụp hệ tiết niệu qua đường tĩnh mạch (urographie intraveineuse): rất ít khi có chỉ định trừ khi cần thiết để phẫu thuật.

     

    - Chụp xạ hình thận (scintigraphierénale): DMSA; DTPA sẽ phát hiện được sẹo thận và đánh giá được độ lọc cầu thận.

     

    Ðiều trị:

     

    - Trước khi bắt tay vào điều trị viêm bể thận cấp người thầy thuốc cần tổng hợp các dữ kiện lâm sàng như trẻ sốt, bỏ bú, đau khi tiểu, tiểu nhiều lần, đau hố thận, các xét nghiệm như bạch cầu niệu, vi trùng trong nước tiểu và các xét nghiệm khác như bạch cầu máu, CRP để có chẩn đoán xác định.

     

    - Cần phải điều trị bằng đường tĩnh mạch với 2 loại kháng sinh diệt khuẩn: Cephalosporine thế hệ thứ 3 và Aminoside. Cephalosporine thế hệ thứ 3 sẽ được dùng trong 10 ngày và Aminoside được chỉ định trong 5 ngày.

     

    - Cấy nước tiểu lại, kiểm tra vào giờ thứ 48 sau điều trị đầu tiên.

     

    B. Viêm bàng quang:

     

    Thường trẻ không sốt, chỉ than tiểu rát, tiểu khó, tiểu đau, tiểu nhiều lần, trẻ sợ không dám đi tiểu. Nước tiểu có thể có máu. Hay gặp viêm bàng quang ở trẻ tuổi mẫu giáo, do sợ đi tiểu nên các cháu nhịn uống nước.

     

    Xét nghiệm chỉ cần làm tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu. Các chỉ định xét nghiệm khác không thật sự cần thiết.

     

    Ðiều trị:

     

    - Kháng sinh uống trong 7 ngày và khuyến khích trẻ uống nhiều nước, lưu ý các cô bảo mẫu cho trẻ uống đủ nước, dạy trẻ không được nhịn tiểu ở trường.

     

    - Tẩy giun kim cho trẻ định kỳ mỗi 6 tháng.

     

    II. Viêm cầu thận cấp (Glomerulonephritis):

     

    Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm cầu thận cấp:

     

    1. Nguyên nhân do hậu nhiễm vi trùng rất thường gặp như:

     

    - Vi trùng: Streptococcus b tan huyết nhóm A; Staphylococcus aureus; Mycoplasma; Meningocaccus; Brucella; Leptospira.

     

    - Siêu vi trùng: Trái rạ (Varicella); Rubeola; Cytomegalo virus; Epstein - Barr virus.

     

    - Ký sinh trùng: Toxoplasma; Trichinella; Rickettsia; Ký sinh trùng sốt rét.

     

    2. Những nguyên nhân ít gặp hơn:

     

    - Bệnh viêm cầu thận tăng sinh màng. (Membranoproliferative Glomerulonephritides).

     

    - Có thể gặp trong bệnh lắng đọng IgA ở cầu thận.

     

    - Bệnh Lupus đỏ hệ thống (Tahomaic lupus erythematous).

     

    - Viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.

     

     3. Nguyên nhân hiếm gặp: Viêm nút quanh động mạch (Polyarteritis nodosa).

     

    Triệu chứng định bệnh:

     

    1. Lâm sàng: Tuổi thường gặp từ 3 đến 15 tuổi, trẻ phù toàn thân do giữ muối nước; tiểu ít; tiểu máu đại thể (nước tiểu có màu máu như nước thịt bò); trẻ tăng cân đột ngột trong vài ngày; Hỏi bệnh kỹ có thể biết được bệnh nhi có nhiễm trùng da hoặc viêm mũi họng trước đó 10 ngày đến 2 tuần mà không điều trị.

     

    2. Biến chứng: Nếu không điều trị có thể dẫn đến những biến chứng nặng đe dọa tính mạng trẻ như: Cao huyết áp; suy tim; phù phổi cấp; co giật và tử vong.

     

    3. Xét nghiệm: Bệnh nhân sẽ được làm những xét nghiệm định bệnh và phát hiện biến chứng của bệnh:

     

    - Tổng phân tích nước tiểu cho thấy nước tiểu có nhiều đạm, nhiều hồng cầu.

     

    - Chức năng thận: Urée máu, Créatinine máu để đánh giá mức độ suy thận.

     

    - Ðịnh lượng bổ thể: C3 trong máu thường giảm.

     

    - Ðo điện giải đồ trong máu: như natri, kali, calci/máu giúp thầy thuốc kịp thời điều chỉnh.

     

    - Ðo điện tâm đồ và chụp X-quang phổi trong trường hợp bệnh nặng.

     

    - Ðo kháng thể ASO trong máu.

     

    Ðiều trị:

     

    1. Trẻ cần được nhập viện và nghỉ ngơi tại giường nếu có cơn cao huyết áp.

     

    2. Hạn chế lượng muối ăn vào và hạn chế uống nước nếu phù nhiều.

     

    3. Ðiều trị nhiễm trùng da hay viêm họng nếu còn ổ nhiễm trùng với Penicilline uống khi thầy thuốc khám nghĩ là viêm cầu thận cấp do liên cầu (Streptococcus b tan huyết nhóm A.)

     

    4. Ðiều trị biến chứng:

    - Cao huyết áp với thuốc hạ áp và lợi tiểu.

     

    - Ðiều trị suy tim và suy thận cũng như rối loạn điện giải.

     

    Những trẻ có biến chứng thường phải được theo dõi kỹ càng ở phòng cấp cứu của khoa hay ở khoa săn sóc tăng cường mới đủ phương tiện điều trị.

     

    Tiên lượng:

     

    -95% các trường hợp viêm cầu thận cấp hậu nhiễm trùng (đa số là liên cầu) thường có dự hậu tốt. Bệnh sẽ phục hồi và không để di chứng. Tuy nhiên có một số ít trường hợp có thể dẫn đến hiện tượng hyalin ở cầu thận (glomerular hyalinization) và dẫn đến suy thận mãn bất phục hồi.

     

    Suy tim và suy thận cấp có thể dẫn đến tử vong trong giai đoạn cấp.

     

    Phòng ngừa:

     

    - Thường chỉ được áp dụng đối với nhóm viêm cầu thận hậu nhiễm trùng

     

    - Giữ vệ sinh da sạch sẽ cho trẻ.

     

    - Ðiều trị ngay khi bị ghẻ ở ngoài da và viêm họng.

     

    Nếu trẻ đột ngột phù, tăng cân, tiểu ít, tiểu máu các bậc cha mẹ không nên chần chờ mà phải đưa cháu đi khám sớm ở bệnh viện nhi.  

     

    Chúc bạn và gia đình sức khỏe!

    Th.S Bác sỹ: Hà Hoàng Minh
  • Cách nấu bột mặn cho trẻ
    Con em được 6 tháng 5 ngày, em cho cháu ăn bột ngọt từ lúc 4tháng 18 ngày, đến bây giờ em đang muốn cho cháu ăn bột mặn, xin chỉ giúp em cách cho bé ăn bột mặn lần đầu tiên như thế nào được ko a? Em xin cảm ơn.
    Vũ Phương Dung
    Trả lời:

    Bột dùng để nấu cháo cho trẻ có thể sử dụng bột gạo xay, các loại bột ăn liền đóng gói sẵn, hoặc là nấu cháo thật nhừ (có thể rây nhuyễn). Chị có thể xay gạo thành bột để nấu cho bé ăn, sau khi vo gạo để làm khô nhanh chi có thể sấy hoặc rang. Nhưng nếu có điều kiện, chị nên mua các loại bột gạo, ngũ cốc đã được đóng gói sẵn (với thương hiệu có uy tính). Bột gạo, ngũ cốc được sản xuất công nghiệp sẽ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đủ dinh dưỡng và chỉ cần pha nước ấm (bột gạo xay cần phải nấu chính) là có thể cho bé ăn.

     

    Một bát cháo phải có đủ 4 nhóm thực phẩm là bột, đạm, vitamin & khoáng chất và chất béo.

     

    - Đạm thì ngoài thịt, cá, tôm, cua, trứng (giai đoạn dưới 1 tuổi chỉ sử dụng lòng đỏ, không sử dụng lòng trắng) còn có thể dùng các loại đậu như đậu hũ, đậu hũ non, đậu nành, đậu xanh…

     

    - Vitamin & khoáng chất thì sử dụng các loại rau củ. Màu càng đậm càng nhiều vitamin (rau dền, mồng tơi, cải ngọt, rau ngót, bó xôi, bí đỏ, cà chua, cà rốt,…). Lưu ý là các loại thực phẩm này không nên nấu lâu, nếu không sẽ mất chất.

     

    - Chất béo thì có thể sử dụng từ dầu ăn, dầu đậu nành, dầu mè, dầu hướng dương,…

     

    Công thức như sau:

     

    - 200ml nước

     

    - 10g đạm (thịt/cá…) (khoảng 2 muỗng càfê) – băm nhuyễn (nếu sử dụng trứng thì ½ lòng đỏ trứng gà hoặc 2 lòng đỏ trứng cút)

     

    - 10g rau/củ (khoảng 2 muỗng càfê) – băm nhuyễn

     

    - 5g dầu ăn (khoảng 1 muỗng càfê)

     

    - ½ muỗng càfê nước mắm (luôn luôn nêm nhạt cho bé)

     

    Cách chế biến

     

    + Thịt, cá sau khi băm nhuyễn thì tán trong nước nguội trước cho tan đều (không cho thẳng vào nước sôi).

     

    + Tiếp đến cho bột vào rồi bắc lên bếp, quấy đều tay cho đến khi bột chín.

     

    + Cho tiếp rau củ, dầu ăn và nước mắm vào, đậy nắp đến lúc sôi trở lại thì tắt bếp. Dầu và nước mắm có thể cho vào ngay sau khi tắt bếp

     

    (Nếu sử dụng trứng thì phải đánh trứng với rau cho tan đều rồi cho vào sau khi bột chín)

     

    Khi bé được chín tháng thì có thể sử dụng gấp đôi lượng thực phẩm (lúc này không cần băm nhuyễn lắm) cũng với 200ml nước để có chén bột đặc hơn. Nếu bé không quen ăn đặc thì có thể làm như sau: Lấy 1 nhúm giá khoảng 20g (1 nắm tay) xay ra cùng với 200ml nước, lược bỏ cái rồi dùng nước này nấu bột như bình thường.

     

    * Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi:

     

    - Năng lượng: 100 Kcal/kg/ngày

     

    - Protein: 2,5 – 3g/kg/ngày

     

    - Lipid: 3 – 4g/kg/ngày

     

    - Glucid: 10 – 12g/kg/ngày

     

    Trẻ ở tuổi này bắt đầu có những thay đổi như mọc răng, bò hay bị các bệnh nhiễm trùng hô hấp, tiêu hóa … nên trẻ có những giai đoạn biếng ăn tâm lý do đó phải kiên trì và biết cách chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị của trẻ và tập một thói quen ăn uống tốt.

     

    Tất cả các trẻ phải được ăn dặm trong giai đoạn này bằng các thực phẩm có sẵn tại địa phương.

     

    Ngoài thức ăn là bột đặc hay cháo đặc, có đủ 4 nhóm thức ăn trên, 2 – 3 chén/ngày, kèm thêm 6 – 8 lần bú mẹ hay sữa nhân tạo.

     

    Ngoài ra, trẻ cần được cho ăn thêm trái cây: chuối, đu đủ, … nhưng chú ý không ăn quá nhiều và nên ăn sau khi bú hoặc sau khi ăn bột/cháo.

     

    Cần lưu ý: Khi thay đổi chế độ ăn từ lỏng sang đặc hoặc cho trẻ ăn thức ăn mới, luôn phải tập dần cho trẻ làm quen, số lượng cũng phải tăng dần từ ít đến nhiều.

     

    Chúc bé hay ăn chóng lớn!

    Th.S Bác sỹ: Hà Hoàng Minh
Gửi câu hỏi (Xin kiểm tra các câu hỏi đã có trả lời trước khi gửi câu hỏi mới)
Họ và tên 
Email
Tiêu đề 
Nội dung  
Mã xác nhận 

Captcha HttpHandler appears not to be registered.

If you can see the Captcha image, it's safe to disable this troubleshooting check (documentation).

Please make sure your web.config file includes the following declarations:

<system.web>

<httpHandlers>

<add verb="GET" path="BotDetectCaptcha.ashx" type="BotDetect.Web.CaptchaHandler, BotDetect"/>

...

<system.webServer>

<handlers>

<remove name="BotDetectCaptchaHandler"/>

<add name="BotDetectCaptchaHandler" preCondition="integratedMode" verb="GET" path="BotDetectCaptcha.ashx" type="BotDetect.Web.CaptchaHandler, BotDetect"/>


If the Captcha HttpHandler is registered, it could also be inaccessible due to your Url Routing/Rewriting settings.

CAPTCHA
Change the CAPTCHA codeSpeak the CAPTCHA code
 
 

BỆNH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ

Hỗ trợ trực tuyến

Chat Yahoo 0237.625.1118

Video

Quảng cáo